
Thành ngữ, tục ngữ Trung Quốc thông dụng: hơn 60 câu có pinyin, Hán Việt và điển tích
Nội dung bài viết
Thành ngữ tiếng Trung (成语 chéngyǔ) là cụm cố định, đa số bốn chữ, thường có điển tích; tục ngữ, ngạn ngữ (谚语 yànyǔ) là cả một câu đúc kết kinh nghiệm sống, gần với tục ngữ Việt Nam. Người Việt có lợi thế lớn: rất nhiều thành ngữ đọc theo âm Hán Việt là hiểu ngay, như (đồng cam cộng khổ) hay (vạn sự như ý). Bài này gồm cách phân biệt 5 loại câu cố định, khoảng 60 thành ngữ và tục ngữ thông dụng chia theo chủ đề (kèm pinyin, âm Hán Việt, nghĩa và câu tiếng Việt tương đương), 6 câu chuyện điển tích ngắn, những câu dễ hiểu nhầm, sách tra cứu và cách học.
Thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ khác nhau thế nào
Trong tiếng Trung, các câu nói cố định được gọi chung là 熟语 (shúyǔ). Khi tìm "ca dao tục ngữ tiếng Trung" hay "ngạn ngữ Trung Quốc", bạn thực ra đang tìm một trong các nhóm dưới đây:
| Loại | Pinyin | Hình dạng | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| 成语 (thành ngữ) | chéngyǔ | Cụm cố định, phần lớn 4 chữ, nhiều câu lấy từ sách cổ, dùng nhiều trong văn viết | vẽ rắn thêm chân |
| 谚语 (ngạn ngữ, tục ngữ) | yànyǔ | Một câu hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm sống, lao động, thời tiết | tuyết lành báo năm được mùa |
| 俗语 (tục ngữ, câu nói dân gian) | súyǔ | Câu khẩu ngữ lưu truyền trong dân gian; nghĩa rộng bao gồm cả ngạn ngữ, quán dụng ngữ, yết hậu ngữ | vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo tới |
| 惯用语 (quán dụng ngữ) | guànyòngyǔ | Cụm ngắn, thường 3 chữ, nghĩa bóng | nịnh bợ, đuổi việc |
| 歇后语 (yết hậu ngữ) | xiēhòuyǔ | Hai vế: vế đầu là hình ảnh như câu đố, vế sau là lời giải; khi nói thường chỉ cần vế đầu | giỏ tre múc nước, công cốc |
Cách nhận nhanh: đủ bốn chữ, không tách được thành câu, thì gần như chắc là 成语. Có chủ ngữ, vị ngữ, thường hai vế đối nhau như (sống đến già, học đến già) thì là 谚语 hoặc 俗语. Ngoài ra còn 名言 (míngyán, danh ngôn) là câu có tác giả cụ thể, ví dụ lời Khổng Tử trong Luận Ngữ.
Thành ngữ về học tập và sự kiên trì
| Thành ngữ | Pinyin | Hán Việt | Nghĩa | Câu tiếng Việt gần nghĩa |
|---|---|---|---|---|
| shú néng shēng qiǎo | Thục năng sinh xảo | Làm nhiều thành thạo, tự nhiên sinh khéo | Quen tay hay việc | |
| wēn gù zhī xīn | Ôn cố tri tân | Ôn cái cũ để hiểu thêm cái mới | Ôn cũ biết mới | |
| xué wú zhǐ jìng | Học vô chỉ cảnh | Việc học không có điểm dừng | Biển học vô bờ | |
| bàn tú ér fèi | Bán đồ nhi phế | Làm nửa chừng thì bỏ | Bỏ dở giữa chừng | |
| chí zhī yǐ héng | Trì chi dĩ hằng | Giữ vững, làm bền bỉ lâu dài | Kiên trì bền bỉ | |
| yú gōng yí shān | Ngu Công di sơn | Ông Ngu Công dời núi: quyết tâm, kiên nhẫn làm việc lớn | Kiến tha lâu cũng đầy tổ | |
| wò xīn cháng dǎn | Ngọa tân thường đảm | Nằm trên củi, nếm mật đắng để nhớ nhục, chờ ngày rửa hận | Nằm gai nếm mật | |
| xiōng yǒu chéng zhú | Hung hữu thành trúc | Trong lòng đã có sẵn cây trúc (người vẽ trúc đã hình dung xong): đã tính kỹ, rất tự tin | Tính trước đâu ra đấy | |
| huà lóng diǎn jīng | Họa long điểm tinh | Vẽ rồng rồi chấm mắt: thêm một chi tiết then chốt làm cả tác phẩm sống động | Vẽ rồng điểm mắt |
Thành ngữ về tính cách, cách đối nhân xử thế
| Thành ngữ | Pinyin | Hán Việt | Nghĩa | Câu tiếng Việt gần nghĩa |
|---|---|---|---|---|
| kǒu shì xīn fēi | Khẩu thị tâm phi | Miệng nói phải mà lòng nghĩ trái | Nói một đằng, nghĩ một nẻo | |
| hú jiǎ hǔ wēi | Hồ giả hổ uy | Cáo mượn uy hổ để doạ người | Cáo mượn oai hùm | |
| jǐng dǐ zhī wā | Tỉnh để chi oa | Ếch dưới đáy giếng, hiểu biết hẹp | Ếch ngồi đáy giếng | |
| bān mén nòng fǔ | Ban môn lộng phủ | Múa rìu trước cửa nhà Lỗ Ban (ông tổ nghề mộc) | Múa rìu qua mắt thợ | |
| hǔ tóu shé wěi | Hổ đầu xà vĩ | Đầu hổ đuôi rắn: khởi đầu rầm rộ, kết thúc qua loa | Đầu voi đuôi chuột | |
| bàn jīn bā liǎng | Bán cân bát lạng | Nửa cân và tám lạng (theo cân cũ 16 lạng) bằng nhau: hai bên ngang nhau, thường ý chê | Kẻ tám lạng, người nửa cân | |
| tóng gān gòng kǔ | Đồng cam cộng khổ | Cùng hưởng ngọt, cùng chịu đắng | Có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia | |
| xuě zhōng sòng tàn | Tuyết trung tống thán | Đưa than sưởi giữa trời tuyết: giúp đúng lúc người ta khốn khó | Một miếng khi đói bằng một gói khi no | |
| jǐn shàng tiān huā | Cẩm thượng thiêm hoa | Thêu hoa lên gấm: đã tốt lại càng tốt hơn | Dệt hoa trên gấm | |
| qīng chū yú lán | Thanh xuất ư lam | Màu xanh chàm lấy từ cây chàm mà xanh hơn cây chàm: trò giỏi hơn thầy | Con hơn cha là nhà có phúc |
Thành ngữ về tình yêu, gia đình và lời chúc
Nhóm này xuất hiện nhiều nhất trong thiệp, lời chúc và mạng xã hội. Nếu bạn cần trọn bộ câu chúc Tết, xem thêm lời chúc mừng năm mới tiếng Trung.
| Thành ngữ | Pinyin | Hán Việt | Nghĩa | Câu tiếng Việt gần nghĩa |
|---|---|---|---|---|
| yī jiàn zhōng qíng | Nhất kiến chung tình | Gặp một lần đã đem lòng yêu | Yêu từ cái nhìn đầu tiên | |
| bǎi nián hǎo hé | Bách niên hảo hợp | Hoà hợp trăm năm (chúc đám cưới) | Trăm năm hạnh phúc | |
| bái tóu xié lǎo | Bạch đầu giai lão | Cùng nhau sống đến đầu bạc | Đầu bạc răng long | |
| wàn shì rú yì | Vạn sự như ý | Mọi việc đều như ý | Vạn sự như ý | |
| xīn xiǎng shì chéng | Tâm tưởng sự thành | Nghĩ gì được nấy | Cầu được ước thấy | |
| mǎ dào chéng gōng | Mã đáo thành công | Ngựa đến là thắng: làm gì cũng thành ngay | Mã đáo thành công | |
| yī lù píng ān | Nhất lộ bình an | Cả chặng đường bình an | Thượng lộ bình an |
Thành ngữ về cuộc sống và may rủi
| Thành ngữ | Pinyin | Hán Việt | Nghĩa | Câu tiếng Việt gần nghĩa |
|---|---|---|---|---|
| sài wēng shī mǎ | Tái ông thất mã | Ông lão biên ải mất ngựa: hoạ phúc khó lường | Trong cái rủi có cái may | |
| yī jǔ liǎng dé | Nhất cử lưỡng đắc | Làm một việc được hai lợi | Một công đôi việc | |
| yī shí èr niǎo | Nhất thạch nhị điểu | Một hòn đá trúng hai con chim | Một mũi tên trúng hai đích | |
| rù xiāng suí sú | Nhập hương tuỳ tục | Đến vùng nào theo phong tục vùng đó | Nhập gia tuỳ tục | |
| rén shān rén hǎi | Nhân sơn nhân hải | Người đông như núi như biển | Đông như kiến, biển người | |
| qī shàng bā xià | Thất thượng bát hạ | Lòng dạ lên xuống không yên | Thấp thỏm, như ngồi trên đống lửa | |
| jiǔ niú yī máo | Cửu ngưu nhất mao | Một sợi lông trên chín con trâu: phần rất nhỏ trong cái rất lớn | Hạt cát giữa sa mạc | |
| pò fǔ chén zhōu | Phá phủ trầm chu | Đập nồi, đánh chìm thuyền: tự cắt đường lui để quyết làm tới cùng | Quyết một phen sống mái | |
| wàng méi zhǐ kě | Vọng mai chỉ khát | Nghĩ tới quả mơ chua mà đỡ khát: tự an ủi bằng hy vọng hão | Không có câu sát nghĩa |
Tục ngữ, ngạn ngữ Trung Quốc thông dụng
Tục ngữ dài hơn thành ngữ nên pinyin viết theo từ. Nhiều câu có bản tiếng Việt gần như dịch từng chữ, vì hai dân tộc chia sẻ kho kinh nghiệm dân gian khá giống nhau.
| Tục ngữ | Pinyin | Nghĩa và câu tiếng Việt tương đương |
|---|---|---|
| zhǐyào gōngfu shēn, tiě chǔ mó chéng zhēn | Chỉ cần chịu bỏ công, chày sắt cũng mài thành kim. Tương đương: có công mài sắt, có ngày nên kim | |
| yǒu zhì zhě shì jìng chéng | Người có chí rốt cuộc sẽ làm nên việc. Tương đương: có chí thì nên | |
| yī cùn guāngyīn yī cùn jīn | Một tấc thời gian là một tấc vàng. Tương đương: thời gian là vàng bạc | |
| huó dào lǎo, xué dào lǎo | Sống đến già, học đến già. Tương đương: học, học nữa, học mãi | |
| sān rén xíng, bì yǒu wǒ shī | Ba người cùng đi, ắt có người là thầy ta (ý từ Luận Ngữ): ai cũng có điều đáng để học | |
| shībài shì chénggōng zhī mǔ | Thất bại là mẹ thành công | |
| chī yī qiàn, zhǎng yī zhì | Vấp một cái hố, khôn thêm một phần. Tương đương: ngã một lần, bớt dại một lần | |
| bǎi wén bù rú yī jiàn | Trăm nghe không bằng một thấy | |
| zhī jǐ zhī bǐ, bǎi zhàn bù dài | Biết mình biết người, trăm trận không nguy (Binh pháp Tôn Tử). Người Việt quen nói: biết người biết ta, trăm trận trăm thắng | |
| jìn zhū zhě chì, jìn mò zhě hēi | Gần son thì đỏ, gần mực thì đen. Tương đương: gần mực thì đen, gần đèn thì rạng | |
| yuǎnqīn bù rú jìnlín | Họ hàng xa không bằng hàng xóm gần. Tương đương: bán anh em xa, mua láng giềng gần | |
| lù yáo zhī mǎ lì, rì jiǔ jiàn rén xīn | Đường xa mới biết sức ngựa, ở lâu mới thấy lòng người. Tương đương: ở lâu mới biết lòng người | |
| bìng cóng kǒu rù, huò cóng kǒu chū | Bệnh từ miệng vào, hoạ từ miệng ra | |
| móu shì zài rén, chéng shì zài tiān | Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên | |
| bù rù hǔ xué, yān dé hǔ zǐ | Không vào hang hổ sao bắt được hổ con. Muốn thành việc lớn phải dám mạo hiểm | |
| sān ge chòu píjiang, dǐng ge Zhūgě Liàng | Ba anh thợ da tầm thường gộp lại bằng một Gia Cát Lượng. Tương đương: một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao | |
| zǎo qǐ de niǎo'ér yǒu chóng chī | Chim dậy sớm có sâu ăn: ai chăm chỉ, đi trước sẽ được lợi | |
| ruì xuě zhào fēng nián | Tuyết lành báo hiệu năm được mùa (ngạn ngữ nhà nông miền Bắc Trung Quốc) | |
| shuō Cáo Cāo, Cáo Cāo dào | Vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo tới. Người Việt dùng y hệt |
Yết hậu ngữ và quán dụng ngữ hay gặp trong khẩu ngữ
Yết hậu ngữ là kiểu chơi chữ rất "Trung Quốc", gặp nhiều trong phim và tiểu thuyết. Khi nói, người ta hay chỉ nói vế đầu, người nghe tự hiểu vế sau, nên muốn hiểu được thì phải thuộc cả hai vế.
| Câu | Pinyin | Nghĩa |
|---|---|---|
| zhúlán dǎ shuǐ — yī chǎng kōng | Giỏ tre múc nước, rốt cuộc trống không: công cốc, công dã tràng | |
| ní púsà guò jiāng — zìshēn nán bǎo | Tượng Bồ Tát bằng đất qua sông, tự mình còn khó giữ: thân mình lo chưa xong | |
| yǎba chī huánglián — yǒu kǔ shuō bù chū | Người câm ăn hoàng liên (vị thuốc rất đắng), đắng mà không nói ra được: ngậm bồ hòn làm ngọt | |
| xiǎocōng bàn dòufu — yī qīng èr bái | Hành non trộn đậu phụ, xanh ra xanh trắng ra trắng: rõ ràng, trong sạch | |
| Zhū Bājiè zhào jìngzi — lǐ wài bù shì rén | Trư Bát Giới soi gương, trong ngoài đều không ra người: làm bên nào cũng bị trách | |
| pāi mǎpì | Vỗ mông ngựa: nịnh bợ | |
| chǎo yóuyú | Xào mực (miếng mực cuộn lại như cuộn chăn chiếu ra về): bị đuổi việc | |
| zǒu hòumén | Đi cửa sau: nhờ quen biết, chạy chọt |
6 câu chuyện thành ngữ ngắn
Thành ngữ có điển tích dễ nhớ nhất khi biết câu chuyện phía sau. Dưới đây là bản tóm tắt ngắn, kể lại theo ý của sách gốc.
守株待兔: ôm cây đợi thỏ
Sách Hàn Phi Tử kể: một nông dân nước Tống đang cày ruộng thì thấy một con thỏ chạy vội, đâm vào gốc cây mà chết. Anh ta nhặt được thỏ không mất công, bèn bỏ cày, ngày ngày ngồi cạnh gốc cây chờ con thỏ khác. Thỏ không đến nữa, ruộng thì bỏ hoang, anh ta thành trò cười cho cả nước. (shǒu zhū dài tù) chỉ người trông chờ may mắn, không chịu nỗ lực, hoặc cứng nhắc dựa vào kinh nghiệm một lần.
画蛇添足: vẽ rắn thêm chân
Theo Chiến Quốc Sách, một người nước Sở làm lễ tế xong, đem một bình rượu thưởng cho những người giúp việc. Rượu không đủ cho nhiều người, họ thi vẽ rắn trên đất, ai xong trước được uống. Một người vẽ xong sớm, tay trái cầm bình, tay phải vẽ thêm chân cho con rắn để khoe mình còn dư thời gian. Người thứ hai vẽ xong, giật lấy bình: "Rắn làm gì có chân?" rồi uống mất. (huà shé tiān zú) chỉ việc làm thừa, làm hỏng cả việc đã xong.
对牛弹琴: đàn gảy tai trâu
Chuyện kể nhạc sĩ Công Minh Nghi đem đàn ra chơi một khúc nhạc tao nhã cho con trâu nghe. Trâu vẫn cúi đầu gặm cỏ. Ông đổi sang những tiếng giống muỗi vo ve, bê con kêu mẹ, trâu mới vẫy đuôi, vểnh tai. (duì niú tán qín) chỉ nói chuyện sâu xa với người không hiểu, cũng dùng để trách người nói không chọn người nghe.
塞翁失马: Tái ông mất ngựa
Sách Hoài Nam Tử kể: một ông lão sống gần biên ải bị mất ngựa, hàng xóm đến an ủi, ông nói biết đâu là phúc. Vài tháng sau con ngựa quay về, dẫn theo một con ngựa Hồ tốt. Con trai ông thích cưỡi ngựa mới, ngã gãy chân. Năm sau giặc tràn tới, trai tráng phải ra trận, phần lớn tử trận, riêng con ông vì chân tật mà sống sót. Câu đầy đủ là (sài wēng shī mǎ, yān zhī fēi fú): ông lão mất ngựa, sao biết không phải là phúc.
自相矛盾: tự mâu thuẫn
Cũng trong Hàn Phi Tử, một người nước Sở bán mâu (giáo) và thuẫn (khiên). Anh ta khoe khiên của mình chắc đến mức không gì đâm thủng, rồi lại khoe giáo sắc đến mức không gì không đâm thủng. Có người hỏi: "Lấy giáo của anh đâm khiên của anh thì sao?", anh ta không đáp được. Từ (máodùn, mâu thuẫn) mà tiếng Việt dùng hằng ngày chính là từ câu chuyện này.
亡羊补牢: mất dê mới sửa chuồng
Chiến Quốc Sách chép lời Trang Tân khuyên vua Sở: thấy thỏ rồi mới gọi chó chưa phải muộn, mất dê rồi mới sửa chuồng chưa phải trễ. Vì vậy người Trung Quốc thường nói (wáng yáng bǔ láo, wéi shí wèi wǎn) với ý khích lệ: sửa sai kịp thời vẫn còn kịp. Đây là điểm khác với câu "mất bò mới lo làm chuồng" của tiếng Việt, vốn mang ý chê người lo muộn.
Những câu dễ hiểu nhầm với người Việt
Âm Hán Việt giúp đoán nghĩa rất nhanh, nhưng cũng là cái bẫy khi nghĩa hoặc sắc thái bị lệch. (Cách dùng âm Hán Việt để đoán nghĩa nói chung có trong bài dùng từ Hán Việt để đoán nghĩa chữ Hán.)
- : như trên, tiếng Trung thiên về khích lệ sửa sai, tiếng Việt thiên về chê trách.
- : nguyên văn là "trăm trận không nguy", không phải "trăm trận trăm thắng".
- : người Việt nói "kẻ tám lạng người nửa cân" với nghĩa trung tính; tiếng Trung hiện nay thường dùng ý chê, kiểu "hai bên dở như nhau".
- (mǎ mǎ hū hū): không liên quan đến ngựa hay hổ, nghĩa là qua loa, cẩu thả, hoặc "tàm tạm" khi trả lời về tình hình của mình.
- (bù kě sī yì, bất khả tư nghị): nghĩa gốc nhà Phật là "không thể nghĩ bàn", nay dùng như "khó tin, không thể tưởng tượng nổi", cả nghĩa tốt lẫn xấu.
Sách và từ điển thành ngữ tiếng Trung nên dùng
Khi gặp một thành ngữ lạ, cần một nguồn có giải nghĩa, xuất xứ và câu ví dụ. Hai nguồn đáng tin, đã kiểm tháng 9/2026:
- 《新华成语词典》 (Tân Hoa thành ngữ từ điển), bản thứ 2: Trung tâm nghiên cứu từ điển của NXB Thương Vụ (商务印书馆) biên soạn, xuất bản năm 2015, hơn 10.000 mục thành ngữ, chữ giản thể, có pinyin, giải nghĩa và ví dụ. Hợp với người đã học khoảng HSK 4 trở lên vì phần giải nghĩa hoàn toàn bằng tiếng Trung.
- 教育部《成語典》 của Bộ Giáo dục Đài Loan (dict.idioms.moe.edu.tw): tra miễn phí trên web, do Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia Đài Loan quản lý, có xuất xứ, điển cố và cách dùng. Chữ hiển thị là phồn thể, nên nếu bạn học giản thể hãy đọc thêm bài chữ giản thể và phồn thể khác nhau thế nào.
Các file "thành ngữ tiếng Trung PDF" chia sẻ tràn lan phần lớn là bản chụp sách có bản quyền hoặc danh sách tự gõ không ai kiểm, sai pinyin khá thường gặp. Muốn tra nhanh trên điện thoại, dùng từ điển có mục thành ngữ như hướng dẫn trong bài từ điển tiếng Trung nên dùng, rồi tự chép những câu mình gặp vào sổ riêng.
Cách học tiếng Trung qua thành ngữ
- Học đúng lúc. Người mới (dưới HSK 3) nên ưu tiên từ vựng và mẫu câu cơ bản; chỉ nên học những câu dùng hằng ngày như lời chúc hoặc . Thành ngữ bốn chữ có giá trị nhất khi bạn bắt đầu đọc báo, xem phim, viết đoạn văn.
- Đọc âm Hán Việt trước, pinyin sau. Với , đọc "đồng cam cộng khổ" là nhớ nghĩa ngay; việc còn lại chỉ là gắn pinyin tóng gān gòng kǔ và luyện đọc đúng thanh.
- Nhóm câu có chuyện kể. Đọc chuyện một lần thì nhớ lâu hơn chép mười lần. Kể lại câu chuyện bằng tiếng Trung đơn giản cũng là bài luyện nói tốt.
- Học kèm một câu ví dụ. Thành ngữ trong câu thường đóng vai vị ngữ, định ngữ hoặc trạng ngữ, ví dụ (Tā zuò shì zǒngshì bàn tú ér fèi. Anh ấy làm việc gì cũng bỏ dở giữa chừng.) Chỉ thuộc bốn chữ mà không biết đặt vào câu thì khó dùng được.
- Để ý sắc thái khen chê. là khen, là chê, dù cả hai đều nói về "thêm vào". Dùng sai sắc thái nghe rất lạ tai với người bản ngữ.
- Ôn theo cặp trái nghĩa hoặc cùng chủ đề. Ví dụ đi với , đi với .




