
Tiếng Đài Loan là gì: tiếng Hoa phồn thể, tiếng Đài bản địa và khác tiếng Quảng Đông thế nào
Nội dung bài viết
"Tiếng Đài Loan" mà người Việt cần để đi học, đi làm và làm giấy tờ ở Đài Loan là tiếng phổ thông (tiếng Hoa), ở Đài Loan gọi là Quốc ngữ (Guóyǔ), viết bằng chữ phồn thể và ghi âm bằng chú âm. Về cơ bản đó là cùng một thứ tiếng với tiếng phổ thông ở Trung Quốc, chỉ khác ở chữ viết, một số từ vựng và giọng. Còn tiếng Đài bản địa là một ngôn ngữ khác thuộc nhóm Mân Nam, không dùng trong trường học hay kỳ thi TOCFL. Tiếng Quảng Đông cũng là một ngôn ngữ riêng, dùng ở Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, người chỉ biết tiếng phổ thông nghe không hiểu.
Ba thứ tiếng hay bị gọi lẫn
| Tiếng phổ thông ở Đài Loan | Tiếng Đài (Mân Nam) | Tiếng Quảng Đông | |
|---|---|---|---|
| Tên gọi | Guóyǔ, còn gọi Huáyǔ | , | , |
| Dùng ở đâu | Trường học, công sở, truyền hình, giấy tờ ở Đài Loan | Sinh hoạt hằng ngày ở Đài Loan, nhất là miền nam và người lớn tuổi | Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, nhiều cộng đồng người Hoa |
| Thanh điệu | 4 thanh và thanh nhẹ | Thường đếm 7 thanh | 6 thanh, tính riêng 3 thanh nhập (âm cuối -p, -t, -k) thì thành 9 |
| Chữ viết | Phồn thể | Chữ Hán phồn thể và hệ chữ La tinh Tâi-lô | Phồn thể ở Hồng Kông, Ma Cao, có thêm chữ riêng của tiếng Quảng |
| Ghi âm | Chú âm phù hiệu (37 ký hiệu) | Tâi-lô | Jyutping và một số hệ khác |
| Nghe hiểu tiếng phổ thông? | Có | Không | Không |
Ba thứ tiếng dùng chung phần lớn chữ Hán nên viết ra thì người biết chữ đọc hiểu được nghĩa, nhưng đọc thành tiếng thì khác hẳn nhau.
Cùng một câu, ba cách nói
| Nghĩa | Tiếng phổ thông | Tiếng Đài (Tâi-lô) | Tiếng Quảng Đông (Jyutping) |
|---|---|---|---|
| Xin chào | nǐ hǎo | 你好 lí hó | 你好 nei5 hou2 |
| Cảm ơn | xièxie | 多謝 to-siā | 多謝 do1 ze6 (khi nhận quà), 唔該 m4 goi1 (khi được giúp) |
| Ăn cơm chưa? | chīfàn le ma | 食飽未 tsia̍h-pá--buē | 食咗飯未 sik6 zo2 faan6 mei6 |
| Bao nhiêu tiền? | duōshǎo qián | 偌濟錢 guā-tsē tsînn | 幾多錢 gei2 do1 cin2 |
Chữ 你好 viết giống nhau ở cả ba cột, nhưng ba cách đọc không giống nhau. Chữ ăn là 吃 trong tiếng phổ thông, còn tiếng Đài và tiếng Quảng Đông đều dùng 食, chữ mà tiếng Việt đọc là "thực".
Tiếng phổ thông ở Đài Loan khác ở đại lục chỗ nào
Chữ viết: phồn thể
Đài Loan dùng chữ phồn thể, đại lục dùng giản thể: và 学习 (học tập), và 台湾 (Đài Loan), và 谢谢 (cảm ơn). Đây là phần tốn công nhất khi chuyển từ bên này sang bên kia. Chữ nào khác nhiều nhất nằm ở bài giản thể và phồn thể.
Ghi âm: chú âm thay cho pinyin
Trường học ở Đài Loan dạy chú âm phù hiệu, bộ 37 ký hiệu riêng, ví dụ ghi là ㄋㄧˇ ㄏㄠˇ. Bàn phím bán ở Đài Loan in sẵn các ký hiệu này. Người đã quen pinyin không cần học lại chú âm để giao tiếp, chỉ cần đổi sang bộ gõ pinyin, cách làm nằm ở bài gõ tiếng Trung.
Từ vựng sinh hoạt
| Nghĩa | Đài Loan | Đại lục |
|---|---|---|
| Khoai tây | mǎlíngshǔ | tǔdòu |
| Tàu điện ngầm, metro | jiéyùn | dìtiě |
| Xe buýt | gōngchē | gōngjiāochē |
| Taxi | jìchéngchē | chūzūchē |
| Xe đạp | jiǎotàchē | zìxíngchē |
| Xe máy | jīchē | mótuōchē |
| Phần mềm | ruǎntǐ | ruǎnjiàn |
| Video | yǐngpiàn | shìpín |
| Mạng internet | wǎnglù | wǎngluò |
| Cơm hộp | biàndāng | héfàn |
Cặp dễ gây nhầm nhất là : ở đại lục là khoai tây, ở Đài Loan là lạc (đậu phộng). Những cặp như trên không nhiều nhưng rơi đúng vào chuyện ăn uống, đi lại hằng ngày.
Giọng
Tiếng phổ thông ở Đài Loan gần như không thêm âm uốn lưỡi "-r" cuối từ kiểu Bắc Kinh ( nǎlǐ thay cho 哪儿 nǎr), dùng thanh nhẹ ít hơn, và đọc một số chữ khác đại lục, ví dụ (rác) ở Đài Loan đọc lèsè, ở đại lục đọc lājī. Người học theo giáo trình đại lục sang Đài Loan vẫn nghe hiểu và được hiểu, chỉ mất vài tuần làm quen giọng.
Đi Đài Loan thì học thứ nào
Học tiếng phổ thông, vì đó là tiếng dùng trong trường học, công sở, giấy tờ và là thứ kỳ thi TOCFL đo. Nên học chữ phồn thể từ đầu nếu chắc chắn đi Đài Loan; đã học giản thể rồi thì học thêm phồn thể để đọc, không cần bỏ đi học lại.
Tiếng Đài bản địa chỉ đáng học thêm khi công việc tiếp xúc nhiều với người lớn tuổi hoặc ở miền nam Đài Loan. Bộ Giáo dục Đài Loan có kỳ thi năng lực tiếng Đài riêng, nhưng người lao động và du học sinh không cần nó. Mốc TOCFL cho du học và các cấp thi nằm ở bài TOCFL là gì.
Đi Hồng Kông thì có phải học tiếng Quảng Đông không
Tiếng Quảng Đông là tiếng nói hằng ngày ở Hồng Kông và Ma Cao, còn tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ chính thức ở Hồng Kông và dùng rộng trong đại học, hành chính, tài chính. Người học chương trình dạy bằng tiếng Anh không cần tiếng Quảng Đông để theo học.
Người định sống lâu ở đó thì phải học tiếng Quảng Đông như một ngôn ngữ mới, vì vốn tiếng phổ thông không giúp nghe hiểu. Phần chữ thì dùng lại được: văn bản viết theo lối chuẩn ở Hồng Kông vẫn đọc hiểu được bằng vốn chữ Hán đã có, chỉ phải học lại cách đọc từng chữ và hệ thanh điệu.
Học tiếng phổ thông trước hay học thẳng tiếng Đài, tiếng Quảng
Với người Việt chưa biết gì, học tiếng phổ thông trước là lựa chọn rẻ nhất: tài liệu, giáo trình, ứng dụng và kỳ thi đều nhiều hơn hẳn, và vốn chữ Hán học được mang sang tiếng Quảng Đông hay tiếng Đài vẫn dùng. Chỉ nên học thẳng tiếng Quảng Đông khi mục tiêu duy nhất là sống, làm việc với cộng đồng nói tiếng Quảng. Bốn thanh của tiếng phổ thông so với sáu dấu tiếng Việt nằm ở bài thanh điệu tiếng Trung.




