
Tiếng Nhật và tiếng Trung, cái nào khó hơn với người Việt?
Nội dung bài viết
Với người Việt, tiếng Trung dễ bắt đầu hơn tiếng Nhật ở phần ngữ pháp và chữ viết, nhưng khó hơn ở phát âm. Tiếng Trung có trật tự câu gần giống tiếng Việt, một hệ chữ và mỗi chữ thường một cách đọc, nhưng có 4 thanh điệu và nhiều phụ âm lạ. Tiếng Nhật phát âm nhẹ nhàng (5 nguyên âm, không thanh điệu), nhưng động từ đứng cuối câu, có trợ từ, chia động từ, kính ngữ, và dùng ba hệ chữ với kanji nhiều cách đọc. Nhìn tổng thể, phần lớn người Việt thấy tiếng Nhật khó hơn khi lên trình độ trung cấp, còn tiếng Trung khó hơn ở mấy tháng đầu luyện nghe nói.
So sánh nhanh theo từng mặt
| Mặt | Tiếng Trung | Tiếng Nhật | Bên khó hơn với người Việt |
|---|---|---|---|
| Phát âm | 4 thanh điệu và thanh nhẹ; zh, ch, sh, r, ü | 5 nguyên âm, không thanh điệu; cần giữ đúng độ dài âm | Trung |
| Chữ viết | Một hệ chữ Hán (giản thể), pinyin để ghi âm | Hiragana + katakana + kanji trong cùng câu | Nhật |
| Cách đọc chữ Hán | Phần lớn chữ có một cách đọc | Một chữ thường có nhiều cách đọc tuỳ từ | Nhật |
| Trật tự câu | Chủ ngữ + động từ + tân ngữ, giống tiếng Việt | Chủ ngữ + tân ngữ + động từ, động từ ở cuối | Nhật |
| Biến đổi từ | Động từ không chia | Động từ, tính từ chia theo thì, phủ định, lịch sự | Nhật |
| Mức độ lịch sự | Chủ yếu thể hiện qua từ ngữ | Thể thường, thể lịch sự, kính ngữ, khiêm nhường ngữ | Nhật |
| Lợi thế Hán Việt | Nghĩa và cả âm thường gần Hán Việt | Nghĩa gần Hán Việt, âm On đôi khi gần, âm Kun thì không | Trung tận dụng được nhiều hơn |
Phát âm: tiếng Trung khó hơn
Trong tiếng Trung, sai thanh là sai từ. Cùng âm ma:
| Chữ | Pinyin | Thanh | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| mā | 1 (ngang, cao) | mẹ | |
| má | 2 (đi lên) | cây gai; tê | |
| mǎ | 3 (xuống rồi lên) | ngựa | |
| mà | 4 (đi xuống) | mắng |
Tiếng Việt có 6 thanh nên người Việt quen với việc nghe thanh, nhưng thanh Trung không trùng với dấu tiếng Việt, và thói quen áp dấu Việt vào thường gây đọc lệch. Thêm vào đó là các âm không có trong tiếng Việt như zh, ch, sh, r, âm ü, và biến điệu (ví dụ hai thanh 3 đi liền thì thanh đầu đọc thành thanh 2). So sánh chi tiết thanh Trung với dấu Việt có ở bài bốn thanh điệu tiếng Trung.
Tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm a, i, u, e, o, không có thanh điệu, âm tiết đơn giản. Người Việt đọc tiếng Nhật thường được hiểu ngay từ sớm. Điểm cần luyện là độ dài âm: (obasan, cô) khác (obaasan, bà).
Chữ viết: tiếng Nhật khó hơn
Người học tiếng Nhật phải thuộc hai bảng kana (hiragana và katakana, mỗi bảng 46 chữ cơ bản) rồi mới tới kanji. Một câu bình thường dùng cả ba:
(Watashi wa kōhī o nomimasu. Tôi uống cà phê.)
, là kanji; là katakana; , , là hiragana.
Câu tương tự tiếng Trung chỉ dùng chữ Hán: (Wǒ hē kāfēi.)

Khó hơn nữa là cách đọc. Chữ trong tiếng Trung đọc xué ở hầu hết mọi từ. Trong tiếng Nhật:
| Từ | Đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| gakusei | sinh viên | |
| gakkō | trường học | |
| manabu | học |
Tiếng Trung cũng không nhẹ ở phần mặt chữ: mọi từ đều viết bằng chữ Hán, không có kana để thay thế khi chưa biết chữ, nên số chữ cần nhận mặt để đọc được báo rất lớn. Tiếng Nhật nặng hơn ở chỗ phải nhớ thêm cách đọc cho từng từ. Hệ thống chữ Nhật được giới thiệu ở trang bảng chữ cái hiragana.
Ngữ pháp: tiếng Trung gần tiếng Việt hơn nhiều
| Tiếng | Câu "Tôi đi đến trường" | Trật tự |
|---|---|---|
| Việt | Tôi đi đến trường. | Chủ ngữ + động từ + nơi chốn |
| Trung | (Wǒ qù xuéxiào.) | Giống tiếng Việt |
| Nhật | (Watashi wa gakkō ni ikimasu.) | Chủ ngữ + nơi chốn + động từ |
Câu tiếng Nhật cần trợ từ (đánh dấu chủ đề) và (chỉ đích đến), và động từ phải chia: (không đi), (đã đi), (không đi, thể thường). Tiếng Trung không chia động từ; thì và thể được thể hiện bằng từ như , , , khá giống cách tiếng Việt dùng "đã", "đang", "rồi".
Tiếng Nhật còn có hệ thống lịch sự phức tạp: cùng một việc "ăn" có thể là (thể thường), (lịch sự), (kính ngữ, nói về người trên), (khiêm nhường, nói về mình). Tiếng Trung có từ lịch sự như (ngài), (xin mời) nhưng không chia cả câu theo vai vế.
Tiếng Trung cũng có những điểm ngữ pháp khó riêng như bổ ngữ kết quả, câu chữ , lượng từ, và phân biệt 的, 得, 地, nhưng nhìn chung vẫn nhẹ hơn tiếng Nhật với người Việt.
Vốn Hán Việt: tiếng Trung tận dụng được nhiều hơn
Tiếng Việt có rất nhiều từ gốc Hán, nên cả hai thứ tiếng đều được lợi ở phần nghĩa. Khác nhau ở phần âm:
| Hán Việt | Tiếng Trung | Tiếng Nhật |
|---|---|---|
| chuẩn bị | zhǔnbèi | junbi |
| chú ý | zhùyì | chūi |
| kinh tế | jīngjì | keizai |
| điện thoại | diànhuà | denwa |
Với tiếng Trung, âm Hán Việt thường gợi được cả nghĩa lẫn âm. Với tiếng Nhật, âm On đôi khi gần Hán Việt nhưng lệch nhiều hơn, còn âm Kun (cách đọc thuần Nhật như manabu) thì không liên quan. Cách tận dụng Hán Việt khi học chữ Hán có ở bài dùng từ Hán Việt để đoán nghĩa.
Khó ở giai đoạn nào
| Giai đoạn | Tiếng Trung | Tiếng Nhật |
|---|---|---|
| 1–3 tháng đầu | Vất vả với thanh điệu và pinyin, nhưng ghép câu đơn sớm | Thuộc hai bảng kana khá nhanh, phát âm dễ, nhưng câu đầu tiên đã có trợ từ và chia động từ |
| Sơ cấp đến trung cấp | Tiến nhanh nhờ ngữ pháp đơn giản và Hán Việt | Chậm lại vì kanji nhiều cách đọc, nhiều thể động từ |
| Trung cấp trở lên | Khó ở từ vựng sắc thái, thành ngữ, nghe tốc độ thật | Khó ở kính ngữ, văn viết, lượng kanji lớn |
Nên chọn tiếng nào
| Nếu bạn… | Nghiêng về |
|---|---|
| Muốn ghép câu và giao tiếp cơ bản nhanh nhất | Tiếng Trung |
| Ngại luyện thanh điệu, tai không nhạy cao độ | Tiếng Nhật |
| Ngại nhớ nhiều cách đọc cho cùng một chữ | Tiếng Trung |
| Có mục tiêu việc làm, du học cụ thể ở một nước | Tiếng của nước đó |
| Học vì anime, manga, phim, nhạc | Tiếng gắn với thứ bạn thích, vì động lực quan trọng hơn độ khó |
Học xong một trong hai thì học tiếng còn lại sẽ nhẹ hơn nhiều, vì phần chữ Hán dùng chung. So sánh thêm cả tiếng Hàn có ở bài nên học tiếng Trung, tiếng Nhật hay tiếng Hàn.




