Menu Tiếng Nhật
ĐIỀU HƯỚNG NHANH - TIẾNG NHẬT

Tuvung123

Học Ngoại Ngữ Trực Tuyến

Tiếng Nhật và tiếng Trung, cái nào khó hơn với người Việt?
Học tiếng Nhật

Tiếng Nhật và tiếng Trung, cái nào khó hơn với người Việt?

Admin
6 phút đọc213 lượt xem
Nội dung bài viết

Với người Việt, tiếng Trung dễ bắt đầu hơn tiếng Nhật ở phần ngữ pháp và chữ viết, nhưng khó hơn ở phát âm. Tiếng Trung có trật tự câu gần giống tiếng Việt, một hệ chữ và mỗi chữ thường một cách đọc, nhưng có 4 thanh điệu và nhiều phụ âm lạ. Tiếng Nhật phát âm nhẹ nhàng (5 nguyên âm, không thanh điệu), nhưng động từ đứng cuối câu, có trợ từ, chia động từ, kính ngữ, và dùng ba hệ chữ với kanji nhiều cách đọc. Nhìn tổng thể, phần lớn người Việt thấy tiếng Nhật khó hơn khi lên trình độ trung cấp, còn tiếng Trung khó hơn ở mấy tháng đầu luyện nghe nói.

So sánh nhanh theo từng mặt

MặtTiếng TrungTiếng NhậtBên khó hơn với người Việt
Phát âm4 thanh điệu và thanh nhẹ; zh, ch, sh, r, ü5 nguyên âm, không thanh điệu; cần giữ đúng độ dài âmTrung
Chữ viếtMột hệ chữ Hán (giản thể), pinyin để ghi âmHiragana + katakana + kanji trong cùng câuNhật
Cách đọc chữ HánPhần lớn chữ có một cách đọcMột chữ thường có nhiều cách đọc tuỳ từNhật
Trật tự câuChủ ngữ + động từ + tân ngữ, giống tiếng ViệtChủ ngữ + tân ngữ + động từ, động từ ở cuốiNhật
Biến đổi từĐộng từ không chiaĐộng từ, tính từ chia theo thì, phủ định, lịch sựNhật
Mức độ lịch sựChủ yếu thể hiện qua từ ngữThể thường, thể lịch sự, kính ngữ, khiêm nhường ngữNhật
Lợi thế Hán ViệtNghĩa và cả âm thường gần Hán ViệtNghĩa gần Hán Việt, âm On đôi khi gần, âm Kun thì khôngTrung tận dụng được nhiều hơn

Phát âm: tiếng Trung khó hơn

Trong tiếng Trung, sai thanh là sai từ. Cùng âm ma:

ChữPinyinThanhNghĩa
mā1 (ngang, cao)mẹ
má2 (đi lên)cây gai; tê
mǎ3 (xuống rồi lên)ngựa
mà4 (đi xuống)mắng

Tiếng Việt có 6 thanh nên người Việt quen với việc nghe thanh, nhưng thanh Trung không trùng với dấu tiếng Việt, và thói quen áp dấu Việt vào thường gây đọc lệch. Thêm vào đó là các âm không có trong tiếng Việt như zh, ch, sh, r, âm ü, và biến điệu (ví dụ hai thanh 3 đi liền thì thanh đầu đọc thành thanh 2). So sánh chi tiết thanh Trung với dấu Việt có ở bài bốn thanh điệu tiếng Trung.

Tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm a, i, u, e, o, không có thanh điệu, âm tiết đơn giản. Người Việt đọc tiếng Nhật thường được hiểu ngay từ sớm. Điểm cần luyện là độ dài âm: (obasan, cô) khác (obaasan, bà).

Chữ viết: tiếng Nhật khó hơn

Người học tiếng Nhật phải thuộc hai bảng kana (hiragana và katakana, mỗi bảng 46 chữ cơ bản) rồi mới tới kanji. Một câu bình thường dùng cả ba:

(Watashi wa kōhī o nomimasu. Tôi uống cà phê.)

, là kanji; là katakana; , , là hiragana.

Câu tương tự tiếng Trung chỉ dùng chữ Hán: (Wǒ hē kāfēi.)

Một câu tiếng Nhật tô ba màu theo ba bộ chữ hiragana katakana kanji, đặt cạnh một câu tiếng Trung chỉ dùng một bộ chữ
Câu tiếng Nhật thường trộn ba hệ chữ; câu tiếng Trung cùng nội dung chỉ dùng chữ Hán.

Khó hơn nữa là cách đọc. Chữ trong tiếng Trung đọc xué ở hầu hết mọi từ. Trong tiếng Nhật:

TừĐọcNghĩa
gakuseisinh viên
gakkōtrường học
manabuhọc

Tiếng Trung cũng không nhẹ ở phần mặt chữ: mọi từ đều viết bằng chữ Hán, không có kana để thay thế khi chưa biết chữ, nên số chữ cần nhận mặt để đọc được báo rất lớn. Tiếng Nhật nặng hơn ở chỗ phải nhớ thêm cách đọc cho từng từ. Hệ thống chữ Nhật được giới thiệu ở trang bảng chữ cái hiragana.

Ngữ pháp: tiếng Trung gần tiếng Việt hơn nhiều

TiếngCâu "Tôi đi đến trường"Trật tự
ViệtTôi đi đến trường.Chủ ngữ + động từ + nơi chốn
Trung(Wǒ qù xuéxiào.)Giống tiếng Việt
Nhật(Watashi wa gakkō ni ikimasu.)Chủ ngữ + nơi chốn + động từ

Câu tiếng Nhật cần trợ từ (đánh dấu chủ đề) và (chỉ đích đến), và động từ phải chia: (không đi), (đã đi), (không đi, thể thường). Tiếng Trung không chia động từ; thì và thể được thể hiện bằng từ như , , , khá giống cách tiếng Việt dùng "đã", "đang", "rồi".

Tiếng Nhật còn có hệ thống lịch sự phức tạp: cùng một việc "ăn" có thể là (thể thường), (lịch sự), (kính ngữ, nói về người trên), (khiêm nhường, nói về mình). Tiếng Trung có từ lịch sự như (ngài), (xin mời) nhưng không chia cả câu theo vai vế.

Tiếng Trung cũng có những điểm ngữ pháp khó riêng như bổ ngữ kết quả, câu chữ , lượng từ, và phân biệt 的, 得, 地, nhưng nhìn chung vẫn nhẹ hơn tiếng Nhật với người Việt.

Vốn Hán Việt: tiếng Trung tận dụng được nhiều hơn

Tiếng Việt có rất nhiều từ gốc Hán, nên cả hai thứ tiếng đều được lợi ở phần nghĩa. Khác nhau ở phần âm:

Hán ViệtTiếng TrungTiếng Nhật
chuẩn bị zhǔnbèi junbi
chú ý zhùyì chūi
kinh tế jīngjì keizai
điện thoại diànhuà denwa

Với tiếng Trung, âm Hán Việt thường gợi được cả nghĩa lẫn âm. Với tiếng Nhật, âm On đôi khi gần Hán Việt nhưng lệch nhiều hơn, còn âm Kun (cách đọc thuần Nhật như manabu) thì không liên quan. Cách tận dụng Hán Việt khi học chữ Hán có ở bài dùng từ Hán Việt để đoán nghĩa.

Khó ở giai đoạn nào

Giai đoạnTiếng TrungTiếng Nhật
1–3 tháng đầuVất vả với thanh điệu và pinyin, nhưng ghép câu đơn sớmThuộc hai bảng kana khá nhanh, phát âm dễ, nhưng câu đầu tiên đã có trợ từ và chia động từ
Sơ cấp đến trung cấpTiến nhanh nhờ ngữ pháp đơn giản và Hán ViệtChậm lại vì kanji nhiều cách đọc, nhiều thể động từ
Trung cấp trở lênKhó ở từ vựng sắc thái, thành ngữ, nghe tốc độ thậtKhó ở kính ngữ, văn viết, lượng kanji lớn

Nên chọn tiếng nào

Nếu bạn…Nghiêng về
Muốn ghép câu và giao tiếp cơ bản nhanh nhấtTiếng Trung
Ngại luyện thanh điệu, tai không nhạy cao độTiếng Nhật
Ngại nhớ nhiều cách đọc cho cùng một chữTiếng Trung
Có mục tiêu việc làm, du học cụ thể ở một nướcTiếng của nước đó
Học vì anime, manga, phim, nhạcTiếng gắn với thứ bạn thích, vì động lực quan trọng hơn độ khó

Học xong một trong hai thì học tiếng còn lại sẽ nhẹ hơn nhiều, vì phần chữ Hán dùng chung. So sánh thêm cả tiếng Hàn có ở bài nên học tiếng Trung, tiếng Nhật hay tiếng Hàn.