
Chữ Hán là gì: nguồn gốc, lịch sử 3.000 năm, lục thư và có bao nhiêu chữ
Nội dung bài viết
Chữ Hán (Hán tự, hànzì) là hệ chữ dùng để viết tiếng Trung: mỗi chữ ghi một âm tiết và thường mang một nghĩa, chứ không ghi từng âm như chữ cái. Ví dụ (rén, nhân) là "người", (mù, mộc) là "cây". Dấu vết sớm nhất còn giữ được là giáp cốt văn khắc trên mai rùa, xương thú đời Thương, khoảng 1250 trước Công nguyên, nên chữ Hán có lịch sử hơn 3.000 năm. Trong bốn hệ chữ được phát minh độc lập thời cổ đại (chữ hình nêm, chữ tượng hình Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya), chữ Hán là hệ duy nhất còn được dùng liên tục tới nay. Người Việt dùng chữ Hán làm chữ viết chính thức suốt nhiều thế kỷ, đó là lý do tiếng Việt có âm Hán Việt.
"Chữ tiếng Trung", "chữ Trung Quốc", "Hán tự" đều chỉ cùng một thứ. Tiếng Nhật gọi chữ Hán là kanji, tiếng Hàn gọi là hanja.
Nguồn gốc và lịch sử chữ Hán qua 5 giai đoạn
| Giai đoạn chữ | Thời gian | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Giáp cốt văn (jiǎgǔwén) | Cuối đời Thương; bản đời vua Vũ Đinh được định tuổi khoảng 1254–1197 TCN | Khắc trên mai rùa, xương bò để bói. Nét mảnh, nhiều chữ còn giống hình vẽ |
| Kim văn (jīnwén) | Cuối Thương tới đời Chu | Đúc trên đồ đồng như chuông, đỉnh; nét dày, tròn hơn |
| Triện thư, tiểu triện (xiǎozhuàn) | Nhà Tần thống nhất năm 221 TCN | Thừa tướng Lý Tư chuẩn hoá một kiểu chữ cho cả nước; nét đều, tròn |
| Lệ thư (lìshū) | Định hình đời Hán | Nét thẳng, vuông, chữ dẹt; từ đây chữ gần như mất hẳn dáng hình vẽ |
| Khải thư (kǎishū) | Phổ biến từ thời Nam Bắc triều (thế kỷ 5–6) | Chữ chân phương, là dạng chữ in và chữ viết chuẩn ngày nay |
Song song với khải thư có hành thư và thảo thư là lối viết nhanh, về sau thành các kiểu thư pháp. Năm 1956, Trung Quốc đại lục công bố phương án giản hoá, sinh ra chữ giản thể; Đài Loan, Hồng Kông giữ chữ phồn thể. Hai hệ khác nhau ra sao ở bài giản thể và phồn thể.
Giáp cốt văn chỉ được nhận ra năm 1899, khi học giả Vương Ý Vinh thấy những vết khắc trên "long cốt" bán làm thuốc là chữ cổ. Tới nay đã thu được khoảng 4.000 chữ giáp cốt khác nhau, giới nghiên cứu đọc được khoảng 1.500 tới 2.000 chữ.
Truyền thuyết kể Thương Hiệt, sử quan của Hoàng Đế, nhìn dấu chân chim thú mà đặt ra chữ. Đây là truyền thuyết; về mặt khảo cổ, chữ Hán hình thành dần qua nhiều thế hệ chứ không do một người tạo ra.
Lục thư: sáu cách tạo chữ Hán
Cách chia chữ Hán thành sáu loại, gọi là lục thư ( liùshū), được Hứa Thận trình bày trong Thuyết văn giải tự (), bộ sách hoàn thành khoảng năm 100, giải thích 9.353 chữ và xếp chúng dưới 540 bộ.
| Phép | Cách tạo | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tượng hình | Vẽ lại vật | rì (mặt trời), shān (núi), rén (người) |
| Chỉ sự | Dùng nét, dấu để chỉ ý trừu tượng | shàng (trên), xià (dưới), běn (gốc: vạch ở gốc cây) |
| Hội ý | Ghép các chữ có nghĩa thành nghĩa mới | míng (sáng) = 日 + 月; xiū (nghỉ) = người + cây |
| Hình thanh | Một phần chỉ nghĩa, một phần chỉ âm | mā (mẹ) = 女 (nghĩa) + 马 mǎ (âm); hé (sông) = 氵 (nước) + 可 |
| Chuyển chú | Các chữ cùng gốc, cùng nghĩa, dùng giải thích cho nhau | kǎo và lǎo trong ví dụ của Hứa Thận |
| Giả tá | Mượn chữ có sẵn cùng âm để ghi từ khác | lái vốn vẽ cây lúa mì, được mượn làm "đến" |
Bốn phép đầu là cách tạo ra hình chữ, hai phép sau là cách dùng chữ có sẵn. Trong chữ thông dụng hiện nay, hình thanh chiếm phần lớn, nên biết bộ thủ và phần gợi âm là chìa khoá để nhớ chữ. 22 chữ hội ý và 4 họ chữ hình thanh đã tách sẵn ở bài chiết tự chữ Hán; 214 bộ thủ ở bài bộ thủ tiếng Trung.
Chữ Hán có bao nhiêu chữ, cần biết bao nhiêu
| Mốc | Số chữ |
|---|---|
| Thuyết văn giải tự (khoảng năm 100) | 9.353 chữ |
| Khang Hy tự điển (1716), xếp theo 214 bộ | Hơn 47.000 chữ, phần lớn là dị thể, chữ cổ ít dùng |
| Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng (Trung Quốc, 2013) | 8.105 chữ: 3.500 chữ cấp 1 thường dùng, 3.000 chữ cấp 2, phần còn lại dùng cho tên riêng, thuật ngữ |
Người đọc báo thoải mái cần khoảng vài nghìn chữ, con số hay dùng là 3.500 chữ thường dùng. Người mới học không cần tính tới đó: 100 chữ đầu đã chiếm khoảng 42% số chữ trong một văn bản thông thường, bảng và độ phủ chi tiết ở bài 100 chữ Hán thông dụng nhất.
Chữ Hán khó nhất
| Chữ | Pinyin | Số nét | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 𰻞 (phồn thể) / 𰻝 (giản thể) | biáng | 58 nét phồn thể (tính theo đại lục là 57), 42 nét giản thể | Tên món mì biángbiáng ở Thiểm Tây; không có trong Khang Hy tự điển, chỉ vào bảng mã Unicode năm 2020 |
| nàng | 36 nét | Nghĩa là nói giọng mũi, nghẹt mũi; chữ nhiều nét hiếm hoi còn nằm trong từ điển hiện đại |
Với người học, chữ "khó" thật sự không phải chữ nhiều nét mà là chữ đa âm (như đọc xíng hoặc háng) và các chữ gần giống nhau như jǐ, yǐ, sì. Chữ nhiều nét thường tách được thành bộ phận quen, nên dễ nhớ hơn tưởng.
Cách ghép chữ tiếng Trung và nhớ mặt chữ
- Học nét và thứ tự nét trước. Mọi chữ đều từ 8 nét cơ bản, viết theo quy tắc trên trước dưới sau, trái trước phải sau, xem thứ tự nét chữ Hán.
- Học khoảng 30 bộ thủ hay gặp. Gặp chữ mới thì nhìn nó là ghép của hai, ba bộ phận quen, không phải một đống nét.
- Nhìn ra kiểu ghép. Trái phải ( = 女 + 马), trên dưới ( = 宀 + 子), bao ngoài ( = 囗 + 玉).
- Gắn chữ với âm Hán Việt. Biết 学 là "học", 生 là "sinh" thì (xuésheng) là học sinh; đây là lợi thế riêng của người Việt, xem dùng từ Hán Việt để đoán nghĩa.
- Học chữ trong từ ghép, ôn lại theo lịch giãn cách. Có cần viết tay hay chỉ cần nhận mặt chữ thì xem có cần học viết tay chữ Hán không.
Chữ Hán ở Việt Nam
Chữ Hán vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và là chữ viết của triều đình, khoa cử, văn chương suốt nhiều thế kỷ. Người Việt dựa trên chữ Hán tạo ra chữ Nôm để ghi tiếng Việt; nhà Hồ và nhà Tây Sơn từng dùng chữ Nôm trong văn bản chính thức. Kỳ thi Nho học cuối cùng tổ chức năm 1919, sau đó chữ Quốc ngữ thay thế dần.
Dấu vết còn lại lớn nhất là từ Hán Việt: "học sinh", "quốc gia", "điện thoại" đều đọc từ chữ Hán. Nhưng không phải từ nào giống cũng cùng nghĩa, 15 cặp dễ nhầm nằm ở bài từ Hán Việt dễ hiểu nhầm.
Câu hỏi hay gặp
Hán tự 360 là sách học chữ Hán tiếng Trung à?
Không. Hán tự 360 là bộ sách học kanji dành cho người học tiếng Nhật, bám theo khoảng 2.136 chữ kanji thường dùng của Nhật, cách đọc on/kun. Chữ giống chữ Hán nhưng cách đọc và nhiều dạng chữ khác tiếng Trung, nên người học tiếng Trung không nên dùng làm tài liệu chính. Người học tiếng Nhật xem thêm học kanji trước hay từ vựng trước.
Có tài liệu nguồn gốc chữ Hán bản PDF không?
Sách về lịch sử chữ Hán bán trên thị trường có bản quyền; bản PDF lan truyền thường là bản chụp không được phép. Nguồn gốc từng chữ có thể tra miễn phí trong các từ điển trực tuyến có mục "tự nguyên" (nguồn gốc chữ), cách tra ở bài từ điển tiếng Trung.
Học tiếng Trung bắt đầu từ chữ Hán hay pinyin?
Từ pinyin, trong vài tuần đầu, để đọc được âm và thanh điệu, rồi học chữ Hán song song ngay sau đó. Lộ trình cụ thể ở bài học tiếng Trung cho người mới bắt đầu.




