Menu Chính
ĐIỀU HƯỚNG NHANH

Tuvung123

Học Ngoại Ngữ Trực Tuyến

Ngữ pháp tiếng Nhật

Tiếng Nhật đặt động từ ở cuối câu và dùng trợ từ để báo ai làm gì với cái gì. Hiểu trợ từ và cách chia động từ rồi thì một câu dài cũng chỉ là mấy khối ghép lại. Các bài dưới đây đi đúng theo thứ tự đó.

Chưa đọc được mặt chữ thì bắt đầu ở chương 0 của lộ trình bên dưới. Muốn luyện sâu hơn: Phát âm tiếng Nhật

Hiểu rồi thì luyện ở đâu

Ngữ pháp chỉ đọng lại khi bạn gặp lại nó trong câu thật. Ba chỗ dưới đây đều có phụ đề song ngữ, bấm vào từng câu là xem được nghĩa từng chữ.

Ngữ pháp tiếng Nhật: học theo thứ tự nào và vì sao trợ từ là nút thắt

Ngữ pháp tiếng Nhật là bộ quy tắc ghép từ thành câu, và nó khác tiếng Việt ở ba chỗ lớn ngay từ câu đầu tiên: động từ đứng cuối câu, vai trò của mỗi danh từ do một trợ từ dán phía sau quyết định chứ không do vị trí, và mức lịch sự nằm ở đuôi động từ chứ không ở đại từ xưng hô.

Ba khác biệt đó giải thích vì sao người Việt học tiếng Nhật thường đọc hiểu từng chữ mà vẫn không hiểu câu. Bạn tra được 私, 学校, 行きます, nhưng nếu không biết は và に đang làm gì trong câu thì bạn chỉ có ba mảnh rời chứ chưa có câu. Trợ từ là nút thắt thật sự, và nó lại là thứ không nằm trong từ điển.

Trang này xếp các chủ điểm theo thứ tự nên học và chỉ ra chỗ hay sai nhất, nhưng cũng nói rõ một điều: học thuộc bảng chia thể chưa đủ để bạn nghe ra câu. Điều giúp bạn nghe ra câu là gặp lại cùng một cấu trúc trong hàng trăm câu thật, điều mà phụ đề song ngữ Nhật, Việt và câu ví dụ trong bộ từ vựng có thể giúp bạn làm mỗi ngày.

Ngữ pháp tiếng Nhật gồm những phần nào

Gom thành sáu nhóm thì dễ định hướng hơn là một danh sách mấy trăm mẫu câu JLPT:

  • Trợ từ (助詞), は, が, を, に, で, と, から, まで, の, も. Nhóm nhỏ về số lượng nhưng quyết định nghĩa của cả câu, và là nhóm người Việt tốn thời gian nhất vì tiếng Việt không có thứ tương ứng.
  • Chia động từ, thể ます (lịch sự), thể từ điển, thể て, thể ない, thể た. Năm dạng này là gốc; gần như mọi mẫu ngữ pháp N4 trở lên đều ghép vào một trong năm dạng đó.
  • Tính từ, hai nhóm い và な chia khác nhau hoàn toàn. Nhầm nhóm là câu sai ngay ở dạng phủ định và quá khứ.
  • Câu phức và liên kết ý, ~から, ~ので, ~けど, ~とき, ~たら, ~ば. Đây là chỗ quyết định bạn nói được câu dài hay chỉ ghép được câu ngắn.
  • Kính ngữ (敬語), 尊敬語 và 謙譲語. Không cần sớm, nhưng cần trước khi đi làm hoặc đi phỏng vấn, vì đây là thứ người Nhật dùng để đánh giá bạn.
  • Trật tự câu, chủ ngữ, tân ngữ, động từ (SOV), bổ ngữ đứng trước danh từ, và thói quen lược bỏ chủ ngữ khi ngữ cảnh đã rõ.

Trợ từ は và が khác nhau chỗ nào

Đây là câu hỏi được gõ nhiều nhất về ngữ pháp tiếng Nhật, và phần lớn câu trả lời trên mạng dừng ở "は là chủ đề, が là chủ ngữ", đúng nhưng không dùng được, vì người học không biết khi nào cần cái nào.

Cách phân biệt chạy được trong đầu lúc nói là hỏi: phần thông tin mới nằm ở đâu. Nếu cái mới nằm ở phần sau (vị ngữ) thì chủ đề dùng は, 私は学生です, người nghe đã biết đang nói về bạn, cái mới là "học sinh". Nếu cái mới nằm chính ở chủ ngữ thì dùng が, 誰が来ましたか / 田中さんが来ました, cái mới là "ai", nên nó mang が.

Hai luật phụ giải quyết phần lớn trường hợp còn lại. Một, trong mệnh đề phụ (mệnh đề bổ nghĩa cho danh từ, mệnh đề với とき, ~から) thì chủ ngữ hầu như luôn là が chứ không phải は. Hai, với những động từ và tính từ chỉ trạng thái, ある, いる, できる, 好き, 上手, đối tượng mang が chứ không mang を: 日本語が分かります, không phải 日本語を分かります.

Và một điều đáng biết sớm: khi ngữ cảnh đã rõ thì người Nhật bỏ hẳn cả cụm chủ đề. Câu 「食べました?」 không thiếu chủ ngữ, nó chỉ không cần nhắc lại. Người học quen dịch từng chữ hay cố chèn 私は vào mọi câu, và đó là dấu hiệu nhận ra người mới rõ nhất.

Thể て mở khoá phần lớn ngữ pháp còn lại

Nếu phải chọn một bài học có sức bật lớn nhất trong tiếng Nhật sơ cấp thì đó là cách chia thể て. Bản thân nó không mang nghĩa gì, nhưng nó là chỗ nối để ghép thêm: ~てください (nhờ, mời), ~ています (đang, và cả trạng thái kéo dài), ~てもいいです (được phép), ~てはいけません (cấm), ~てから (xong rồi mới), ~てあげる/くれる/もらう (làm giúp ai).

Nghĩa là học một luật chia mà mở ra sáu bảy mẫu câu. Đổi lại, luật chia thể て là luật rắc rối nhất của nhóm động từ I, う・つ・る thành って, む・ぶ・ぬ thành んで, く thành いて (riêng 行く thành 行って), ぐ thành いで, す thành して. Đây là chỗ đáng học thuộc thật, kể cả bằng bài hát chia て mà người học Nhật hay dùng.

Một dấu hiệu để tự kiểm tra mình đang ở đâu: nếu bạn còn phải dừng lại vài giây để chia thể て thì bạn chưa thể học tiếp N4 cho trôi, vì gần như mẫu nào cũng bắt đầu bằng thể て hoặc thể ない. Luyện đến mức bật ra không nghĩ rồi hãy đi tiếp.

Thứ tự nên học ngữ pháp tiếng Nhật

Thứ tự dưới đây xếp theo mức độ ảnh hưởng tới việc bạn hiểu được câu và người khác hiểu được bạn, không theo thứ tự trong sách. Nó gần với trình tự JLPT nhưng không giống hẳn, vài mẫu nằm ở N4 lại cần sớm hơn nhiều so với chỗ sách xếp.

  • Bắt đầu: khuôn câu N は N です, câu hỏi với か, chỉ định これ/それ/あれ, và trợ từ の. Chừng này đã giới thiệu được bản thân và hỏi một đồ vật là cái gì.
  • Ngay sau đó: thể ます cùng phủ định ません và quá khứ ました, kèm bốn trợ từ を, に, で, へ. Đây là bộ tối thiểu để nói được "tôi làm gì, ở đâu, lúc nào".
  • Tính từ い và な, kèm cách chia phủ định và quá khứ của chúng. Nhóm nhỏ nhưng sai là lộ ngay.
  • Thể て và cụm mẫu ghép vào nó, bước bản lề, xem phần trên.
  • Mức N4: thể từ điển, thể ない, thể thường (普通形), câu điều kiện ~たら/~ば/~と, và ~と思います. Thể thường là cửa vào của mọi mẫu trung cấp, không nắm thì kẹt lại ở lối nói chỉ có ます.
  • Mức N3 trở lên: bị động, sai khiến, kính ngữ, và các mẫu diễn đạt sắc thái (~わけ, ~はず, ~べき). Đến đây thì cách học đổi hẳn: gặp trong bài đọc rồi tra, thay vì học theo bảng.

Những lỗi ngữ pháp người Việt hay mắc khi học tiếng Nhật

Danh sách này lấy theo chỗ khác biệt giữa hai thứ tiếng, vì lỗi lặp lại nhiều nhất luôn nằm đúng chỗ tiếng Việt không có thứ tương ứng.

  • Đặt động từ giữa câu theo phản xạ tiếng Việt: 私は食べますご飯 thay vì 私はご飯を食べます. Động từ tiếng Nhật luôn ở cuối, không có ngoại lệ trong câu trần thuật.
  • Chèn 私は vào mọi câu. Đúng ngữ pháp nhưng nghe rất "người học", tiếng Nhật lược chủ ngữ khi ngữ cảnh đã rõ.
  • Dùng を với động từ trạng thái: 日本語を分かります, 音楽を好きです. Đúng phải là が.
  • Nhầm nhóm tính từ khi chia: きれいくない thay vì きれいじゃない (きれい trông như tính từ い nhưng là tính từ な).
  • Dùng ~ています chỉ với nghĩa "đang làm" mà bỏ mất nghĩa thứ hai là trạng thái còn lại: 結婚しています nghĩa là "đã có gia đình", không phải "đang làm đám cưới".
  • Dịch thẳng "và" thành と cho mọi trường hợp. と chỉ nối danh từ; nối hai vế câu phải dùng thể て hoặc ~し.
  • Dùng thể thường với người trên. Đây là lỗi không sai ngữ pháp nhưng hậu quả nặng nhất, người nghe hiểu là bạn thiếu tôn trọng chứ không hiểu là bạn học chưa tới.

Học ngữ pháp tiếng Nhật qua anime và bài hát có được không

Được, nhưng không phải để học quy tắc, để gặp lại quy tắc đã đọc. Thứ tự đúng là: đọc một chủ điểm cho biết nó tồn tại, rồi dành phần lớn thời gian bắt gặp nó trong câu thật cho tới lúc câu sai nghe thành gợn. Làm ngược lại là cách khiến người ta thi JLPT tốt mà nói vẫn sai.

Với riêng tiếng Nhật, cần nói rõ giới hạn của nguồn anime và nhạc. Anime dùng gần như toàn thể thường, nhiều tiếng lóng, và hệ xưng hô trong anime (俺, てめえ, ~だぜ) là thứ bạn tuyệt đối không nên mang ra dùng ở công ty. Lời bài hát còn đảo trật tự và lược trợ từ cho hợp giai điệu, lấy nó làm chuẩn ngữ pháp là học nhầm chỗ ngay từ đầu.

Cách dùng đúng: giữ một nguồn giải thích có thứ tự làm khung, sách, hoặc chính lộ trình phía trên trang này, rồi dùng phim, video và nhạc để lấp đầy khung đó bằng câu thật. Phụ đề song ngữ hiện cùng lúc cho bạn thấy nguyên văn tiếng Nhật bên cạnh nghĩa, nên bạn nhận ra cấu trúc ngay giữa lúc xem mà không phải dừng lại tra.

Một cách luyện rẻ mà hiệu quả: chọn một chủ điểm đang học, ví dụ ~ています, rồi xem một tập phim và chỉ để ý mỗi lần nhân vật dùng nó. Sau vài chục lần bạn sẽ tự thấy nó đi với những tình huống nào, thứ mà không bảng công thức nào tả được.