Ngữ pháp tiếng Trung
Tiếng Trung không chia động từ, không có thì, không có giống số, nghe thì dễ, nhưng đúng vì vậy mà nghĩa lại nằm ở trật tự chữ và ở mấy hư từ nhỏ như 了, 的, 不. Các bài dưới đây xoay quanh đúng những chữ nhỏ đó.
Chưa đọc được mặt chữ thì bắt đầu ở chương 0 của lộ trình bên dưới. Muốn luyện sâu hơn: Phát âm tiếng Trung
Hiểu rồi thì luyện ở đâu
Ngữ pháp chỉ đọng lại khi bạn gặp lại nó trong câu thật. Ba chỗ dưới đây đều có phụ đề song ngữ, bấm vào từng câu là xem được nghĩa từng chữ.
Ngữ pháp tiếng Trung: dễ hơn bạn nghĩ, nhưng khó đúng vài chỗ
Câu người ta hay nghe nhất về tiếng Trung là "ngữ pháp dễ lắm". Nửa đầu đúng: động từ không chia theo ngôi hay theo thì, danh từ không có số nhiều bắt buộc, không có giống đực giống cái, và trật tự câu chủ, vị, tân giống hệt tiếng Việt. So với tiếng Anh hay tiếng Nhật thì phần phải học thuộc ít hơn hẳn.
Nửa sau là chỗ người học vấp. Chính vì không có đuôi biến đổi nên tiếng Trung dồn toàn bộ thông tin ngữ pháp vào hư từ, những chữ một âm tiết như 了, 的, 得, 在, 把, 被, và vào trật tự từ. Sai một chữ 了 đặt nhầm chỗ là đổi hẳn nghĩa câu, mà lại không có dấu hiệu hình thức nào báo cho bạn biết là mình vừa sai.
Thêm một cái bẫy riêng của người Việt: tiếng Việt mượn rất nhiều từ Hán Việt, nên bạn đoán nghĩa từ vựng nhanh hơn người học nước khác. Nhưng ngữ pháp thì không đi kèm, đoán được nghĩa mà đặt câu vẫn sai là chuyện rất thường, và nó khiến người học chủ quan bỏ qua đúng những chỗ cần học kỹ.
Ngữ pháp tiếng Trung gồm những phần nào
Gom thành năm nhóm thì dễ định hướng hơn là một danh sách mấy trăm điểm ngữ pháp HSK:
- Hư từ và trợ từ, 的/得/地, 了, 着, 过, 吗/呢/吧. Nhóm nhỏ về số lượng nhưng mang gần hết thông tin ngữ pháp của câu.
- Lượng từ, 个, 本, 张, 只, 杯… Tiếng Trung không cho số đứng thẳng trước danh từ; phải chèn lượng từ vào giữa, và mỗi loại vật đi với lượng từ riêng.
- Bổ ngữ (补语), bổ ngữ kết quả (完, 好, 到, 见), bổ ngữ trình độ với 得, bổ ngữ xu hướng (来/去), bổ ngữ khả năng. Đây là nhóm không có tương ứng trong tiếng Việt và cũng là nhóm quyết định bạn nghe hiểu được người bản xứ hay không.
- Câu đặc biệt, câu chữ 把, câu bị động 被, câu 是…的, câu tồn hiện. Phần lớn nằm ở HSK 4 và là chỗ phân biệt người nói khá với người nói tạm.
- Trật tự câu và trạng ngữ, chủ, vị, tân giống tiếng Việt, nhưng trạng ngữ thời gian và nơi chốn đứng trước động từ, ngược hẳn thói quen tiếng Việt.
Chữ 了 không phải thì quá khứ
Đây là hiểu lầm phổ biến nhất về ngữ pháp tiếng Trung, và nó bám rất dai vì trong nhiều câu đơn giản thì dịch nó thành quá khứ vẫn ra nghĩa đúng. Nhưng tới lúc gặp câu phức thì cách hiểu đó không còn đúng.
了 có hai vai trò ở hai vị trí khác nhau. Đứng ngay sau động từ, nó báo hành động đã hoàn thành, 我买了一本书 (tôi đã mua một quyển sách). Đứng cuối câu, nó báo tình hình đã thay đổi so với trước, 我不吃了 (tôi không ăn nữa), mà câu này nói về hiện tại chứ không nói về quá khứ. Một câu có thể mang cả hai: 我吃了饭了.
Một bằng chứng rõ là câu 明天我下了课就去找你 nói về ngày mai nhưng vẫn có 了, vì ở đây 了 báo việc đã xong chứ không báo thời điểm. Ngược lại, rất nhiều câu quá khứ không có 了 nào cả, ví dụ khi kể thói quen cũ hay khi câu đã có trạng ngữ thời gian rõ.
Kèm theo là một luật hay quên: phủ định bằng 没 thì bỏ 了. 我没买书, không phải 我没买了书. Và phân biệt 不 với 没 cũng theo cùng logic, 不 phủ định ý muốn hoặc thói quen, 没 phủ định việc đã xảy ra.
Ba chữ 的, 得, 地 cùng đọc "de"
Ba chữ này đọc giống hệt nhau nên khi nghe thì không phân biệt được, nhưng khi viết thì sai là thấy ngay, và đây là lỗi phổ biến tới mức chính người bản ngữ cũng mắc.
的 đứng giữa phần bổ nghĩa và danh từ: 我的书, 漂亮的花. Đây là chữ dùng nhiều nhất trong ba chữ.
得 đứng giữa động từ và phần nói về mức độ làm việc đó ra sao: 他跑得很快 (anh ấy chạy rất nhanh). Cấu trúc này không có tương ứng trực tiếp trong tiếng Việt nên người Việt hay bỏ mất chữ 得 và nói 他跑很快, sai.
地 đứng giữa phần mô tả cách thức và động từ: 慢慢地走 (đi chậm rãi). Ít gặp nhất trong ba chữ, và trong văn nói đời thường nhiều khi được lược.
Mẹo nhớ theo vị trí thay vì theo nghĩa: 的 trước danh từ, 地 trước động từ, 得 sau động từ.
Thứ tự nên học ngữ pháp tiếng Trung
Thứ tự dưới đây xếp theo mức độ ảnh hưởng tới việc người nghe có hiểu bạn hay không, không theo thứ tự trong giáo trình. Nó bám sát khung HSK nhưng đẩy vài điểm lên sớm hơn chỗ sách xếp.
- Bắt đầu: trật tự chủ, vị, tân, câu với 是, câu hỏi với 吗 và từ để hỏi, phủ định 不. Chừng này đã giới thiệu được bản thân và hỏi một thứ là cái gì.
- Ngay sau đó: lượng từ và 这个/那个, sở hữu với 的, câu với 有 và phủ định 没有, chữ 在 chỉ nơi chốn.
- Tính từ làm vị ngữ với 很, bài nhỏ nhưng người Việt hay sai vì phản xạ chèn 是 vào (他是很高 là sai, phải là 他很高).
- Mức HSK 2: chữ 了 ở cả hai vị trí, phân biệt 不 với 没, trợ từ 过 và 着, cùng nhóm 会/能/可以.
- Mức HSK 3: so sánh với 比, bổ ngữ kết quả và bổ ngữ trình độ với 得, các cặp liên từ 因为…所以…, 虽然…但是…, 如果…就….
- Mức HSK 4 trở lên: câu chữ 把, câu bị động 被, câu 是…的, bổ ngữ khả năng và bổ ngữ xu hướng. Đây là chỗ tiếng Trung thật sự khó, và cũng là chỗ người học hay dừng lại quá sớm.
Những lỗi ngữ pháp người Việt hay mắc khi học tiếng Trung
Tiếng Việt và tiếng Trung giống nhau ở nhiều chỗ, nên lỗi của người Việt thường là đem nguyên thói quen tiếng Việt sang những chỗ hai bên khác nhau, ít khi do không biết.
- Đặt trạng ngữ thời gian và nơi chốn sau động từ theo trật tự tiếng Việt: 我吃饭在家 thay vì 我在家吃饭. Đây là lỗi số một.
- Chèn 是 trước tính từ: 她是漂亮 thay vì 她很漂亮. Tính từ tiếng Trung tự làm vị ngữ, không cần 是.
- Bỏ lượng từ: 三书 thay vì 三本书.
- Coi 了 là dấu hiệu quá khứ và gắn vào mọi câu kể chuyện cũ, kể cả những câu không cần.
- Quên bỏ 了 khi phủ định bằng 没: 我没买了 thay vì 我没买.
- Nhầm 的 với 得 khi viết, nhất là trong cấu trúc bổ ngữ trình độ.
- Dùng 二 thay 两 khi đếm: 二个人 thay vì 两个人. Đứng trước lượng từ thì "hai" là 两.
- Tin vào từ Hán Việt quá mức. 走 trong tiếng Trung hiện đại là "đi" chứ không phải "chạy", 汤 là "canh" chứ không phải "thuốc", mặt chữ quen nhưng nghĩa đã trôi.
Học ngữ pháp tiếng Trung qua phim và bài hát có được không
Được, nhưng không phải để học quy tắc, để gặp lại quy tắc đã đọc. Thứ tự đúng là: đọc một chủ điểm cho biết nó tồn tại, rồi dành phần lớn thời gian bắt gặp nó trong câu thật cho tới lúc câu sai nghe thành gợn. Học thuộc bảng trước rồi mới đọc là cách khiến người ta thi HSK tốt mà nói vẫn sai.
Với riêng tiếng Trung, cần lưu ý hai chuyện. Một là phim cổ trang dùng lối nói văn ngôn và từ cổ không đem ra đời thường được; muốn học ngữ pháp hiện đại thì chọn phim đời thường. Hai là lời bài hát đảo trật tự và lược hư từ cho hợp giai điệu, mà hư từ chính là toàn bộ ngữ pháp tiếng Trung, nên lấy lời nhạc làm chuẩn là học nhầm đúng chỗ quan trọng nhất.
Cách dùng đúng: giữ một nguồn giải thích có thứ tự làm khung, sách, hoặc chính lộ trình phía trên trang này, rồi dùng phim, video và nhạc để lấp đầy khung đó bằng câu thật. Phụ đề song ngữ Trung, Việt hiện cùng lúc cho bạn thấy nguyên văn bên cạnh nghĩa, nên bạn nhận ra cấu trúc ngay giữa lúc xem mà không phải dừng lại tra.
Một cách luyện rẻ mà hiệu quả: chọn một chủ điểm đang học, ví dụ chữ 了, rồi xem một tập phim và chỉ để ý mỗi lần nó xuất hiện, ghi lại nó đứng sau động từ hay ở cuối câu. Sau vài chục lần bạn sẽ tự thấy hai vai trò của nó tách hẳn ra, thứ mà đọc mười lần bảng quy tắc cũng không cho bạn.